
1
PHẦN I. HÌNH THỨC, THỜI GIAN KIỂM TRA - Hình thức kiểm tra: Tự luận. - Số câu: 05 + Đọc hiểu: 04 câu. + Viết: 1 câu. - Số điểm: 10 - Thời gian làm bài: 90 phút. PHẦN II: MA TRẬN - ĐỀ CƯƠNG ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I I. Ma trận STT Kĩ năng
Nội dung/đơn vị kiến thức
Mức độ nhận thức Tổng % điểm Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Vận dụng cao 1 2
Đọc hiểu (Ngữ liệu ngoài SGK đang học)
Thơ sáu chữ, bảy chữ; văn bản thông tin; văn bản nghị luận, truyện cười
01 câu 1,0 điểm
01 câu 2,0 điểm
50%
Tiếng việt ½ câu 0,5 điểm
½ câu 0,5 điểm
2 Viết Viết văn bản nghị luận về một vấn đề của
01 câu 5,0 điểm
50%
ĐỀ CƯƠNG, MA TRẬN KIỂM TRA CUỐI HKI
NGỮ VĂN LỚP 8 Năm học 2023 - 2024
2
đời sống hoặc viết bài văn kể về một hoạt động xã hội Tổng số câu, điểm, tỉ lệ 1,5 câu 1,5 điểm 15%
1,5 câu 1,5 điểm 15%
1 câu 2,0 điểm 20%
01 câu 5,0 điểm 50%
100%
II. Đề cương: * Đọc hiểu. 1. Văn bản:
+ Thể loại: Thơ sáu chữ, bảy chữ; văn bản thông tin; văn bản nghị luận; truyện cười. + Ngữ liệu: sử dụng ngoài sách giáo khoa tương đương với các thể loại văn bản được học trong chương trình. Ngữ liệu có thể là 01
đoạn trích/ văn bản hoàn chỉnh, phải có nguồn rõ ràng, độ tin cậy cao; có ý nghĩa giáo dục, xã hội, nhân văn sâu sắc.
+ KIẾN THỨC ĐỌC HIỂU a. Truyện cười - Truyện cười là thể loại tự sự dân gian chứa đựng yếu tố gây cười, nhằm mục đích giải trí, hoặc phê phán, châm biếm, đã kích những thói hư, tật xấu trong cuộc sống. Truyện cười là một trong những biểu hiện sinh động cho tính lạc quan, trí thông minh sắc sảo của tác giả dân gian. - Cốt truyện thường xoay quanh những tình huống, hành động có tác dụng gây cười. Cuối truyện thường có sự việc bất ngờ, đẩy mâu thuẫn đến đỉnh điểm, lật tẩy sự thật, từ đó tạo ra tiếng cười. - Bối cảnh thường không được miêu tả cụ thể, tỉ mỉ, có thể là bối cảnh không xác định, cũng có thể là bối cảnh gần gũi, thân thuộc thể hiện đặc điểm thiên nhiên, văn hoá, phong tục gắn với từng truyện. - Nhân vật thường có hai loại: + Loại thứ nhất thường là những nhân vật mang thói xấu phổ biến trong xã hội như: lười biếng, tham ăn, keo kiệt,... hoặc mang thói xấu gắn với bản chất của một tầng lớp xã hội cụ thể.
3
+ Loại thứ hai thường là những nhân vật tích cực, dùng trí thông minh, sự sắc sảo, khôn ngoan để vạch trần, chế giễu, đả kích những hiện tượng và những con người xấu xa của xã hội phong kiến (truyện Trạng Quỳnh, Xiển Bột,...) hoặc dùng khiếu hài hước để thể hiện niềm vui sống, tinh thần lạc quan trước sự trù phủ của môi trường thiên nhiên hay những thách thức do chính môi trường sống mang lại (truyện Bác Ba Phi,...). - Ngôn ngữ thường ngắn gọn, súc tích, hài hước, mang nhiều nét nghĩa hàm ẩn,... - Các thủ pháp gây cười khá đa dạng, linh hoạt: + Tạo tình huống trào phúng bằng một trong hai cách sau hoặc kết hợp cả hai cách: Tô đậm mâu thuẫn giữa bên trong và bên ngoài giữa thật và giả giữa lời nói hành động,...Kết hợp khéo léo lời người kể chuyện và lời nhân vật hoặc lời của các nhân vật tạo nên những liên tưởng, đối sảnh bất ngờ, hải hước, thú vị + Sử dụng các biện pháp tu từ giàu tính trào phúng (lối nói khoa trương, phóng đại chơi chữ,...) b. Văn bản nghị luận
Luận đề và luận điểm trong văn nghị luận:
- Luận đề: là vấn đề chính được nêu ra để bàn luận trong văn bản nghị luận.
- Luận điểm: là những ý kiến thể hiện quan điểm của người viết về luận đề.
Trong văn bản nghị luận, luận đề được thể hiện bằng luận điểm và làm sáng tỏ bằng lí lẽ, dẫn chứng.
Bằng chứng khách quan và ý kiến, đánh giá chủ quan của người viết trong văn nghị luận:
- Bằng chứng khách quan là những thông tin khách quan, có thể kiểm chứng được trong thực tế.
- Ý kiến đánh giá chủ quan: là những nhận định, suy nghĩ, phán đoán theo góc nhìn chủ quan của người viết, thường ít có cơ sở kiểm chứng. Do vậy, để giảm tính chủ quan trong đánh giá, giúp ý kiến trở nên đáng tin cậy, người viết cần đưa ra được các bằng chứng khách quan.
*Yêu cầu cần đạt - Nhận biết được thể loại, phân tích được những nét độc đáo của bài thơ thể …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.